Căn cứ quân sự · Cam Ranh
Căn cứ Cam Ranh
Căn cứ Cam Ranh
Căn cứ Cam Ranh nằm trong vùng nước kín gió của vịnh Cam Ranh, trên bán đảo Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam, một địa điểm mà các nhà hoạch định hải quân đã nhiều lần lựa chọn vì thềm lục địa thu hẹp lại ở đó, đưa vùng nước sâu đến gần bờ[1]. Hạm đội Baltic của Hải quân Đế quốc Nga, gồm 40 tàu dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Zinovy Rozhestvensky, đã đóng quân tại đây năm 1905 trước trận Tsushima[1]; các lực lượng Pháp, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Liên Xô và Việt Nam sau đó đều lần lượt sử dụng vịnh này[1][2][3].
Pháp bắt đầu xây dựng một quân cảng tại Cam Ranh vào năm 1911[3] và mở rộng thành một căn cứ lớn từ năm 1939[3]. Nhật Bản chiếm vịnh này năm 1942 trong khi chuẩn bị tiến đánh Malaya thuộc Anh và Borneo, và mất các cơ sở tại đây vì các cuộc không kích của Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1945[1]. Hoa Kỳ xây dựng một căn cứ không quân và hậu cần mới từ năm 1965, bàn giao cho Việt Nam Cộng hòa năm 1972; lực lượng Việt Nam tiếp quản căn cứ năm 1975. Liên Xô sau đó thuê căn cứ này miễn phí từ năm 1978 hoặc 1979, tùy theo nguồn, cho đến năm 2002[2][7], trước khi hải quân Việt Nam trở lại kiểm soát hoàn toàn và, từ năm 2016, mở một phần căn cứ thành cảng hậu cần thương mại và hải quân cho các lực lượng hải quân nước ngoài sử dụng[2][5].
Sử dụng thời kỳ đầu: Nga, Pháp và Nhật Bản
Hạm đội Baltic của Hải quân Đế quốc Nga, gồm 40 tàu dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Zinovy Rozhestvensky, đã đóng quân tại vịnh Cam Ranh năm 1905 trên đường đến trận Tsushima[1]. Sau đó Pháp sử dụng vịnh này làm căn cứ hải quân cho lực lượng của mình tại Đông Dương, bắt đầu xây dựng một quân cảng vào năm 1911 dưới sự chỉ huy của một sĩ quan hải quân tên là Fillommeus, và mở rộng nơi này thành một căn cứ lớn kể từ năm 1939 như một phần của kế hoạch phòng thủ rộng hơn cho Đông Dương[1][3].
Nhật Bản đưa ra tối hậu thư vào tháng 9 năm 1940 đòi quyền kiểm soát các căn cứ bao gồm Cam Ranh, và chiếm đóng vịnh này năm 1942 trong khi chuẩn bị xâm chiếm Mã Lai thuộc Anh và Borneo[1][3]. Vào tháng 1 năm 1945, Lực lượng Đặc nhiệm 38 của Hải quân Hoa Kỳ đã phá hủy phần lớn các cơ sở của Nhật Bản tại đây trong một chiến dịch mang tên Operation Gratitude, sau đó vịnh này bị bỏ hoang[1].
Căn cứ của Pháp năm 1948 và 1949
Bộ Pháp quốc Hải ngoại đã phê duyệt một kế hoạch tái thiết cho Cam Ranh theo Nghị định 48/1447 ngày 18 tháng 9 năm 1948[3]. Các công trình hoàn thành vào cuối năm 1948 đi vào hoạt động năm 1949, bao gồm doanh trại, hệ thống cấp thoát nước và kho nhiên liệu sức chứa 5,000 mét khối[3]. Căn cứ được tái thiết này được thiết kế để chứa khoảng 22,000 quân nhân trong thời bình, với sức chứa lên đến 100,000 người trong các chiến dịch quân sự kéo dài tới một tháng[3].
Căn cứ của Hoa Kỳ, 1965 đến 1972
Việc lập kế hoạch cho một căn cứ mới của Hoa Kỳ bắt đầu vào tháng 4 năm 1965, và đến ngày 10 tháng 6 năm 1965 có khoảng 4,000 kỹ sư Hoa Kỳ đã đến để xây dựng căn cứ này[3]. Đường băng đầu tiên hoàn thành trong 50 ngày, với Đô đốc U.S.G. Sharp đặt đoạn cuối cùng vào ngày 16 tháng 10 năm 1965, và căn cứ bắt đầu hoạt động vào ngày 1 tháng 11 năm 1965[2]. Căn cứ mở rộng thành hai đường băng trải nhựa dài 10,000 foot mỗi đường và một sân đỗ chở hàng rộng 1.3 triệu foot vuông (120,000 mét vuông)[2].
Không đoàn Tiêm kích Chiến thuật số 12 đến nơi vào ngày 8 tháng 11 năm 1965 và Không đoàn Vận tải Chiến thuật số 483 được kích hoạt vào ngày 15 tháng 10 năm 1966[2]. Đến tháng 12 năm 1966, căn cứ xử lý hơn 27,000 lượt máy bay cất hạ cánh mỗi tháng[2]. Không đoàn số 483 bắt đầu giải thể dần từ ngày 1 tháng 1 năm 1972, và căn cứ được bàn giao cho chính quyền Nam Việt Nam vào ngày 15 tháng 5 năm 1972[2]; lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản căn cứ vào ngày 3 tháng 4 năm 1975[2].
Thời kỳ Liên Xô và Nga thuê, đến năm 2002
Liên Xô bắt đầu thuê căn cứ của Việt Nam mà không phải trả tiền, theo một hiệp định 25 năm, và vào lúc cao điểm duy trì tại đây khoảng 20 tàu cùng sáu tàu ngầm tấn công[2]. Bài viết tiếng Anh xác định thời điểm bắt đầu thuê là năm 1979[2]; bài về vịnh trên Wikipedia tiếng Việt xác định là năm 1978[7]. Quyền kiểm soát trở lại Việt Nam ngày 2 tháng 5 năm 2002[2].
Nga và Việt Nam đã ký thêm một thỏa thuận vào ngày 25 tháng 11 năm 2014 quy định các tiêu chuẩn cho việc sử dụng căn cứ của các tàu chiến Nga[2].
Việt Nam kiểm soát và cảng quốc tế
Sân bay quốc tế Cam Ranh, sân bay dân dụng cùng nằm trên bán đảo với căn cứ, đã đón chuyến bay thương mại theo lịch trình đầu tiên vào ngày 19 tháng 5 năm 2004[2]. Quyết định 44/2015/QĐ-TTg, do Thủ tướng ký ngày 22 tháng 9 năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 6 tháng 11 năm 2015, quy định về an ninh và an toàn cho khu vực quân sự hạn chế[4].
Cảng quốc tế Cam Ranh, do Tân Cảng - Petro Cam Ranh, một công ty con của Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, vận hành, đã khai trương trong khu vực căn cứ vào ngày 8 tháng 3 năm 2016[5]. Cảng có hơn 2,100 mét cầu cảng với độ sâu trung bình 20 mét, và có thể tiếp nhận tàu hàng trọng tải đến 110,000 tấn, tàu du lịch có dung tích đến 225,000 tấn và các giàn khoan ngoài khơi tại vùng nước sâu đến 200 mét[5].
Hiện nay
Căn cứ này hiện vẫn là một cơ sở hải quân đang hoạt động của Việt Nam. Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn báo cáo rằng cảng quốc tế này đã phục vụ gần 1,000 lượt tàu quốc tế và nội địa, trong đó có khoảng 100 tàu quân sự từ 14 quốc gia, kể từ khi khai trương năm 2016[5].
Câu hỏi và trả lời
Hoa Kỳ xây dựng Căn cứ Cam Ranh khi nào?
Việc xây dựng bắt đầu vào tháng 4 năm 1965, và căn cứ bắt đầu hoạt động không quân vào ngày 1 tháng 11 năm 1965[2].
Liên Xô đã thuê Cam Ranh trong bao lâu?
Những loại tàu nào có thể cập cảng quốc tế Cam Ranh?
Tàu hàng có trọng tải đến 110,000 tấn và tàu du lịch có dung tích đến 225,000 tấn, kể từ khi cảng khai trương ngày 8 tháng 3 năm 2016[5].
Nguồn
Mọi số liệu trong bài viết này đều được trích dẫn từ một trong các trang sau, liệt kê theo thứ tự lần đầu được sử dụng, kèm ngày trang đó được đọc.
Xem thêm
- Vịnh Cam RanhVịnh
- Cam RanhThành phố cũ
- Cảng hàng không quốc tế Cam RanhSân bay
- Đặc khu Trường SaĐặc khu hành chính
- Đảo Bình BaĐảo
- Đảo Bình HưngĐảo