Dân tộc · Ninh Phước
Người Chăm ở Khánh Hòa
Người Chăm ở Khánh Hòa
Người Chăm là một trong 54 dân tộc được nhà nước Việt Nam công nhận. Tổng điều tra dân số năm 2019 ghi nhận 178,948 người Chăm trong cả nước, so với 161,729 người năm 2009, đưa họ trở thành dân tộc đông dân thứ mười bốn[1]; một cuộc điều tra quốc gia riêng về 53 dân tộc thiểu số được tiến hành vào ngày 1 tháng 4 năm 2019 cho cùng tổng số 178,948 người, trong đó có 87,838 nam và 91,110 nữ, với 83.8 phần trăm sống ở khu vực nông thôn[2].
Người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa hiện nay, gần như toàn bộ, là người Chăm của tỉnh Ninh Thuận trước đây, tỉnh đã sáp nhập vào Khánh Hòa vào ngày 1 tháng 7 năm 2025[3]. Tại tổng điều tra dân số năm 2009, Ninh Thuận có 67,517 người Chăm, chiếm 41.6 phần trăm tổng số người Chăm tại Việt Nam và là cộng đồng cấp tỉnh lớn nhất cả nước[1]. Không tìm thấy số liệu công bố nào về dân số người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa trước đây.
Số liệu dân số
Tổng điều tra dân số năm 2019 ghi nhận 178,948 người Chăm tại Việt Nam, so với 161,729 người tại tổng điều tra dân số năm 2009[1]. Cuộc điều tra quốc gia về 53 dân tộc thiểu số được tiến hành vào ngày 1 tháng 4 năm 2019 ghi nhận cùng tổng số này, với 87,838 nam và 91,110 nữ, và 83.8 phần trăm dân số sống ở khu vực nông thôn[2]. Năm 2019, người Chăm được ghi nhận có mặt tại 56 trong số 63 tỉnh, thành của cả nước[1].
Wikipedia tiếng Việt liệt kê các số liệu theo tỉnh dưới tổng số toàn quốc năm 2019: Ninh Thuận 67,517 người, tức 41.6 phần trăm tổng số người Chăm tại Việt Nam; Bình Thuận 39,557 người, tức 21.4 phần trăm; Phú Yên 22,813 người; An Giang 11,171 người; Thành phố Hồ Chí Minh 10,509 người; Đồng Nai 8,603 người; Bình Định 6,364 người; Tây Ninh 4,014 người; và Bình Dương 2,358 người[1]. Hai tỷ lệ phần trăm mà nguồn này đưa ra không khớp với tổng số đó: 67,517 chiếm 37.7 phần trăm của 178,948, và 39,557 chiếm 22.1 phần trăm, trong khi so với tổng số năm 2009 là 161,729 thì hai con số này lần lượt là 41.8 và 24.5 phần trăm. Không cách tính nào cho ra đúng tỷ lệ 21.4 phần trăm đã công bố cho Bình Thuận, nên có vẻ như nguồn này đã trộn lẫn các số liệu từ những thời điểm khác nhau, và các tỷ lệ phần trăm được nêu ở đây đúng như đã công bố, chứ không được tính lại[1].
Vì Ninh Thuận đã sáp nhập vào Khánh Hòa vào ngày 1 tháng 7 năm 2025[3], tỉnh được hình thành sau đó nắm giữ cộng đồng người Chăm lớn nhất Việt Nam. Không có nguồn nào được thu thập cho biết số liệu người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa trước đây, hay một con số gộp cho tỉnh sau khi sáp nhập.
Các nhóm khu vực
Wikipedia tiếng Việt chia người Chăm ở Việt Nam thành ba cộng đồng theo nơi cư trú, tôn giáo và văn hóa vùng miền[1]. Người Chăm Panduranga, còn gọi là người Chăm Đông hay người Chăm Phan Rang, là những người thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận trước đây, với khoảng 119,000 người, trong đó khoảng 72,000 người ở Ninh Thuận và 47,000 người ở Bình Thuận, và họ tạo thành cộng đồng của tỉnh Khánh Hòa hiện nay[1]. Cũng trang đó ghi họ chiếm khoảng 67.60 phần trăm toàn bộ người Chăm ở Việt Nam, một tỷ lệ không khớp với bất kỳ tổng số nào mà trang này đưa ra: 119,000 là 66.5 phần trăm của tổng số 178,948 người năm 2019 và 73.6 phần trăm của tổng số 161,729 người năm 2009, còn 67.60 phần trăm sẽ hàm ý một tổng số khoảng 176,000 người[1].
Người Chăm H'roi, khoảng 33,000 người, sống rải rác ở vùng cao của Gia Lai, Phú Yên và Bình Định[1]. Người Chăm Nam Bộ, khoảng 37,000 người, sống chủ yếu ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Đồng Nai[1]. Ba con số làm tròn này cộng lại thành khoảng 189,000 người, nhiều hơn tổng số 178,948 người trên toàn quốc năm 2019 được nêu ở chính trang đó, nên chúng được ghi lại ở đây đúng như đã công bố chứ không được điều chỉnh cho khớp[1].
Các cộng đồng tôn giáo
Chăm Panduranga được chia thành hai cộng đồng tôn giáo. Chăm Ahiêr theo truyền thống chịu ảnh hưởng của Bà la môn giáo, còn Chăm Awal, còn gọi là Chăm Bàni, theo truyền thống chịu ảnh hưởng của Hồi giáo[1]. Một nhóm nhỏ hơn trong Chăm Bàni đã chuyển sang Hồi giáo Sunni chính thống vào thập niên 1960 thông qua tiếp xúc với người Chăm ở miền Nam[1].
Nhân Dân mô tả tình hình theo cùng cách diễn đạt: người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận theo Bà la môn giáo, với một bộ phận nhỏ hơn theo truyền thống Bà ni, trong khi các cộng đồng Chăm ở miền Nam theo Hồi giáo[2]. Wikipedia tiếng Việt ghi nhận rằng tập tục Bàni hay Ăwal, được gọi là Ni Tục dưới thời nhà Nguyễn, hành lễ vào các ngày thứ Sáu và giữ một kỳ Ramadan rút ngắn, và rằng có sự bất đồng giữa tập tục này với thực hành Sunni[1].
Tiếng Chăm thuộc nhóm Malayo-Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo[2].
Đền tháp và lễ hội Katê
Các đền tháp Chăm chính của tỉnh là cụm tháp Po Klong Garai phía trên Phan Rang và tháp Po Rome tại Hậu Sanh[6][7]. Làng Hữu Đức thuộc Phước Hữu lưu giữ một đền Po Inư Nưgar với ba nơi thờ chính, thờ các tượng Po Bia Apakal, Po Bia Dara và Po Bia Tâh, cùng một công trình nhỏ ở phía nam dùng trong các nghi lễ cúng thần lửa[6].
Katê, lễ hội chính của người Chăm theo Bà La Môn giáo, được Cục Di sản văn hóa xác định vào ngày 30 tháng sáu và từ ngày mùng một đến ngày mùng mười tháng bảy theo lịch Chăm, một khoảng thời gian mà cơ quan này đặt vào tháng chín, tháng mười hoặc tháng mười một theo dương lịch[7]. Ngày thứ nhất được tổ chức tại các tháp, ngày thứ hai tại nhà làng, ngày thứ ba tại nhà thầy cả sư, và những ngày còn lại tại các gia đình[7].
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận lễ hội Katê của người Chăm tỉnh Ninh Thuận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; VOV đưa tin về thông báo này vào ngày 20 tháng 10 năm 2017[8]. Hữu Đức còn duy trì các lễ Yuer Yang và Cambur[6].
Nghề gốm và các làng nghề
Vào ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại kỳ họp thứ mười bảy ở Rabat, Ủy ban Liên chính phủ về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể đã ghi danh nghệ thuật làm gốm của người Chăm vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO[4][5]. Đây là yếu tố thứ mười lăm của Việt Nam trên một danh sách di sản phi vật thể của UNESCO, và là yếu tố thứ tư được công nhận trong năm 2022[4].
Nghề này do phụ nữ đảm nhiệm, họ tạo hình đất sét bằng cách đi vòng quanh sản phẩm thay vì dùng bàn xoay, và làm ra các vật dụng gia đình, đồ nghi lễ và các sản phẩm trang trí như chum, nồi, khay và bình[5]. Các sản phẩm không được tráng men; chúng được nung ngoài trời bằng củi và rơm ở nhiệt độ khoảng 800 độ C trong bảy đến tám giờ[4]. Các làng được nêu tên trong hồ sơ đề cử là Bàu Trúc, Bình Đức và Xuân Quang, với mỏ đất sét cách Bình Đức khoảng 3 km về phía tây bắc[4].
UNESCO ghi nhận nghề này đang trong tình trạng có nguy cơ vì đô thị hóa đã làm giảm khả năng tiếp cận nguyên liệu thô, nghề thích ứng chậm với nền kinh tế thị trường, và ít người trẻ theo nghề[4].
Bối cảnh lịch sử
Người Chăm là cư dân của Champa, mà vùng cực nam của nó, Panduranga, từng bao trùm địa bàn các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận trước đây[7]. Wikipedia tiếng Việt ghi nhận rằng địa bàn cư trú của người Chăm trong lịch sử trải dài từ các tỉnh miền Trung xuống đến khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận, và vào phần phía bắc của Bà Rịa-Vũng Tàu cùng Tây Nguyên[1].
Dưới thời vua Minh Mạng, trấn Thuận Thành bị bãi bỏ và trở thành phủ Ninh Thuận[1]. Từ thế kỷ 17 trở đi, các cộng đồng người Chăm cũng hình thành tại Campuchia và, từ năm 1755 và một lần nữa dưới thời Minh Mạng và Tự Đức, tại Tây Ninh và các tỉnh miền Nam Việt Nam[1].
Câu hỏi và trả lời
Có bao nhiêu người Chăm tại Việt Nam?
Vì sao Khánh Hòa hiện là tỉnh có nhiều người Chăm nhất?
Hai cộng đồng tôn giáo chính của người Chăm là gì?
Chăm Ahiêr, chịu ảnh hưởng của Bà la môn giáo, và Chăm Awal hay Chăm Bàni, chịu ảnh hưởng của Hồi giáo; một nhóm nhỏ hơn đã chuyển sang Hồi giáo Sunni vào thập niên 1960[1].
Nguồn
Mọi số liệu trong bài viết này đều được trích dẫn từ một trong các trang sau, liệt kê theo thứ tự lần đầu được sử dụng, kèm ngày trang đó được đọc.
- Người Chăm
- Dân tộc Chăm
- Công bố các nghị quyết, quyết định sáp nhập, thành lập tỉnh Khánh Hòa (mới)
- Pottery making art of Cham people inscribed on UNESCO's urgent safeguarding list
- Art of pottery-making of Chăm people
- Di sản văn hóa làng Chăm Hữu Đức
- Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Pô Klong Garai
- Lễ hội Katê của người Chăm tỉnh Ninh Thuận được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
Xem thêm
- Lễ hội KatêLễ hội
- Po Klong GaraiĐền
- Tháp Po RomeĐền
- Làng gốm Bàu TrúcLàng
- Tháp Bà PonagarĐền
- Người RaglaiDân tộc