Dân tộc · Khánh Sơn
Người Raglai
Người Raglai
Người Raglai (còn được viết là Ra Glai, Raglay và Rang Chơk) là một trong 54 dân tộc được nhà nước Việt Nam công nhận[1]. Cuộc tổng điều tra dân số năm 2019 ghi nhận 146,613 người Raglai trong cả nước, so với 122,245 người năm 2009 và 96,931 người năm 1999[1].
Họ sinh sống ở vùng núi duyên hải Nam Trung Bộ, ở độ cao khoảng 500 mét, từ phía tây tỉnh Khánh Hòa trước đây, qua phía tây bắc tỉnh Ninh Thuận trước đây, đến tận Lâm Đồng[1]. Tại cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, Ninh Thuận có 58,911 người Raglai, chiếm 48.2 phần trăm tổng số cả nước, và Khánh Hòa có 45,915 người, tức 37.6 phần trăm[1]; cả hai tỉnh nay hợp thành một tỉnh Khánh Hòa duy nhất. Trong phạm vi Khánh Hòa trước đây, hơn 75 phần trăm sống tại Khánh Sơn và Khánh Vĩnh[1].
Dân số và cư trú
Cuộc tổng điều tra dân số năm 2019 ghi nhận 146,613 người Raglai tại Việt Nam[1]. Cuộc tổng điều tra năm 2009 đã ghi nhận 122,245 người, có mặt tại 18 trong số 63 tỉnh, thành phố của cả nước, và cuộc tổng điều tra năm 1999 ghi nhận 96,931 người[1]. Wikidata ghi nhận người Raglai là một dân tộc với mã định danh Q3928451, có liên kết đến các bài Wikipedia tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp[5].
Số liệu năm 2009 theo từng tỉnh là Ninh Thuận 58,911, tức 48.2 phần trăm tổng số người Raglai tại Việt Nam, Khánh Hòa 45,915, tức 37.6 phần trăm, Bình Thuận 15,440 và Lâm Đồng 1,517[1]. Ninh Thuận sáp nhập vào Khánh Hòa ngày 1 tháng 7 năm 2025, do đó đại đa số người Raglai tại Việt Nam nay sống trong một tỉnh duy nhất[4].
Địa bàn cư trú trải dọc vùng núi duyên hải Nam Trung Bộ, ở độ cao khoảng 500 mét[1]. Trong phạm vi Khánh Hòa trước đây, hơn 75 phần trăm người Raglai của tỉnh sống tại Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, một lưu vực có 48 con sông dài vài km mỗi con, trong đó năm con dài hơn 10 km, cùng hàng trăm con suối[1]. Trong phạm vi Ninh Thuận trước đây, nơi tập trung đông nhất là Bác Ái, với các cộng đồng khác tại Ninh Sơn và Thuận Bắc[1].
Ngôn ngữ
Raglai là một ngôn ngữ Chamic thuộc nhánh Malayo-Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo, cùng với tiếng Chăm, Chu Ru, Ê Đê và Gia Rai[1]. Bài viết Wikipedia tiếng Việt đưa ra một bảng so sánh từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ này và tiếng Mã Lai, cho thấy sự tương ứng đều đặn ở các số đếm, bộ phận cơ thể và động từ thông dụng[1].
Các nhà nghiên cứu chia người Raglai thành hai nhóm, bắc và nam, lấy Quốc lộ 27, chạy từ Ninh Thuận trước đây lên Lâm Đồng, làm ranh giới[1]. Cả hai nhóm đều có mối giao lưu lâu đời với các dân tộc xung quanh, đặc biệt là với người Chăm[1].
Gia đình, dòng họ và làng
Người Raglai định cư theo bur, tức thôn nhỏ, hoặc palei, tức làng, thường đặt trên nền đất cao bằng phẳng gần nguồn nước[1]. Một palei thường gồm vài chục ngôi nhà của một dòng họ, và hộ gia đình thường gồm cha mẹ và con cái chưa lập gia đình[1]. Người đứng đầu làng là pô pa-lây, thường là người đầu tiên khai khẩn đất đai, và người có uy tín cao nhất trong dòng họ là kây pa-lây, người điều hành lễ hội và công việc chung[1]. Các vai trò riêng biệt phụ trách rừng và đất nương rẫy, cùng việc giải quyết tranh chấp theo luật tục[1].
Dòng tộc và nơi cư trú theo chế độ mẫu hệ: gia đình bên vợ sắp xếp hôn nhân, người chồng về sống tại nhà vợ, con cái mang họ mẹ, và con gái út thừa kế tài sản cùng trách nhiệm chăm sóc cha mẹ lúc về già[1]. Cậu ruột, tức anh em trai của người mẹ, có tiếng nói được công nhận trong các quyết định hôn nhân[1]. Trường hợp một người đàn ông Raglai kết hôn vào một gia đình theo phụ hệ, bài viết Wikipedia tiếng Việt ghi nhận quyền quyết định trong gia đình chuyển sang cho người chồng[1].
Bốn dòng họ chính được nêu tên: Chamalịa, được chuyển thành tiếng Việt là Mấu; Pupur, chuyển thành Tro; Katơr, chuyển thành Bo Bo; và Pinãng, chuyển thành Cau hoặc Cao[1]. Các tên dòng họ khác được ghi nhận gồm Ha Vâu, Patauaxa, Asah, Tala và Taing[1].
Canh tác nương rẫy là hình thức sản xuất chính, với ngô và lúa là lương thực chủ yếu, cùng với đậu, các loại củ và trái cây; trâu, bò, lợn và gà được chăn nuôi, và nghề đan lát, rèn và làm gốm được thực hành[1]. Nhà truyền thống được dựng trên cột không cao quá một mét so với mặt đất[1].
Âm nhạc và di sản được công nhận
Các nhạc cụ của người Raglai được ghi nhận trong bài viết Wikipedia tiếng Việt gồm đàn bầu, đàn môi, chapi, bộ chiêng mã la, đàn đá và salaken[1]. Hát đối đáp phổ biến trong các buổi trình diễn ở làng, và người Raglai có một kho tàng sử thi, thần thoại và truyện kể[1].
Ngày 17 tháng 4 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa Lễ Bỏ mả của người Raglai, nghi lễ rời khỏi mộ, vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia dưới hạng mục tập quán xã hội và tín ngưỡng; hình thức được bảo tồn tốt nhất là tại Ba Cụm Bắc, Khánh Sơn[2]. Nghi lễ này bao gồm kagor, một vật hình chiếc thuyền đặt trên nóc mộ[2].
Hai bộ đàn đá đã được một gia đình người Raglai tìm thấy trong chiến tranh và giao lại cho chính quyền vào năm 1978[3]. Ngày 18 tháng 1 năm 2024, Thủ tướng Chính phủ công nhận bộ sưu tập đàn đá Khánh Sơn là bảo vật quốc gia theo Quyết định 73/QĐ-TTg[6]. Hai nguồn không thống nhất về số hiện vật mà quyết định đó bao gồm: một phó chủ tịch huyện Khánh Sơn trước đây được VietnamPlus dẫn lời nêu 28 hiện vật và nhóm hiện vật[3], trong khi danh sách bảo vật quốc gia trên Wikipedia tiếng Việt ghi 29 hiện vật trong đợt thứ mười hai[6]. Các nhạc cụ này do bảo tàng Khánh Hòa lưu giữ, và nhạc sĩ Nguyễn Phương Đông đã làm hơn 150 bản sao từ hai bộ gốc kể từ năm 1979[3]. Huyện đã mở hai lớp truyền dạy với khoảng 120 học sinh từ bậc tiểu học đến trung học[3].
Nhân vật tiêu biểu
Pinăng Tắc (1910 đến 1977), quê tại xã Phước Thành, huyện Bác Ái trước đây của Ninh Thuận, đã chiến đấu trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào tháng 5 năm 1965[1].
Bo Bo Thị Yến, sinh năm 1977 tại xã Sơn Bình thuộc Khánh Sơn, là đại biểu của Khánh Hòa tại Quốc hội khóa XII[1], khóa mà chính hồ sơ các khóa Quốc hội xác định là từ 2007 đến 2011[7]; bài viết Wikipedia tiếng Việt lại ghi nhiệm kỳ là từ 2006 đến 2011[1]. Cao Xà Buôn, sinh năm 1945 tại xã Thành Sơn thuộc Khánh Sơn, cũng từng là đại biểu Quốc hội của tỉnh[1].
Câu hỏi và trả lời
Có bao nhiêu người Raglai?
146,613 người theo tổng điều tra dân số năm 2019 của Việt Nam, so với 122,245 người năm 2009 và 96,931 người năm 1999[1].
Người Raglai sinh sống ở đâu?
Ở vùng núi duyên hải Nam Trung Bộ, ở độ cao khoảng 500 m, chủ yếu tại các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và Bác Ái trước đây, nay đều thuộc tỉnh Khánh Hòa[1].
Nguồn
Mọi số liệu trong bài viết này đều được trích dẫn từ một trong các trang sau, liệt kê theo thứ tự lần đầu được sử dụng, kèm ngày trang đó được đọc.
Xem thêm
- Người Chăm ở Khánh HòaDân tộc
- Khánh HòaTỉnh
- Ninh ThuậnTỉnh cũ
- Làng gốm Bàu TrúcLàng
- Lễ hội KatêLễ hội